Theo xếp hạng trên mp3.zing.vnhttp://static.mp3.zdn.vn/skins/mp3_main/flash/embed/zing_mp3_embed_v1.3.swf?xmlURL=http://mp3.zing.vn/xml/album-xml/LmJGtALEQckFyZvxtFHZH&autostart=false


Bạn đang xem: Những bài hát hay nhất của châu kiệt luân phần 1

*

1.髮如雪 (Fa Ru Xue) / Tóc Như Tuyết - Châu Kiệt Luân2.夜曲 (Ye Qu) / Dạ Khúc - Châu Kiệt Luân3.青花瓷 (Qing Hua Ci) / Sứ Thanh Hoa - Châu Kiệt Luân4.稻香 (Dao Xiang) / Hương Lúa - Châu Kiệt Luân5.蒲公英的約定 (Pu Gong Ying De Yue Ding) /Hẹn Ước Bồ Công Anh - Châu Kiệt Luân6.說好的幸福呢 (Shuo Hao De Xing Fu Ni) / Hạnh Phúc Đã Hẹn Ước Đâu Rồi ? - Châu Kiệt Luân7.我不配 ( Wo Bu Pei) / Anh Không Xứng - Châu Kiệt Luân8.千里之外 (Qian Li Zhi Wai) / Thiên Lý Chi Ngoại - Châu Kiệt Luân9.聽媽媽的話 (Ting Ma Ma De Hua) / Nghe Lời Mẹ Dạy - Châu Kiệt Luân10.甜甜的 (Tian Tian De) / Ngọt Ngào - Châu Kiệt Luân11.菊花台 (Ju Hua Tai) / Cúc Hoa Đài - Châu Kiệt Luân12.彩虹 (Cai Hong) / Cầu Vồng - Châu Kiệt Luân13.三年二班 ( San Nian Er Ban) / Ba Năm Hai Lớp - Châu Kiệt Luân14.楓 (Feng) / Cây Phong - Châu Kiệt Luân15.最長的電影 (Zui Chang De Dian Ying) / Bộ Phim Dài Nhất - Châu Kiệt Luân16.給我一首歌的時間 (Gei Wo Yi Shou Ge De Shi Jian) / Cho Anh Thời Gian Của Một Bài Hát - Châu Kiệt Luân17.星晴 (Xing Qing) / Sao Sáng - Châu Kiệt Luân18.時光機 (Shi Guang Ji) / Cỗ Máy Thời Gian - Châu Kiệt Luân19.東風破 (Dong Feng Po) / Gió Đông Thổi - Châu Kiệt Luân20.蘭亭序 (Lan Ting Xu) / Lan Đình Tự - Châu Kiệt Luân21.七里香 (Qi Li Xiang) / Thất Lý Hương - Châu Kiệt Luân22.霍元甲 (Huo Yuan Chia) / Hoắc Nguyên Giáp - Châu Kiệt Luân23.四面楚歌 (Si Mian Chu Ge) / Tứ Diện Sở Ca - Châu Kiệt Luân24.懦夫 (Nuo Fu) / Kẻ Hèn Nhát - Châu Kiệt Luân25.退後 (Tui Hou) / Rút Lui - Châu Kiệt Luân26.妳聽得到 (Ni Ting De Dao) / Em Có Thế Nghe Thấy - Châu Kiệt Luân27.梯田 (Ti Tian) / Ruộng Bậc Thang - Châu Kiệt Luân28.喬克叔叔 (Qiao Ke Shu Shu) / Chú Hề - Châu Kiệt Luân29.东风破/ Gió Đông Thổi - Châu Kiệt Luân30.白色風車 (Bai Se Feng Che) / Cối Xay Gió Màu Trắng - Châu Kiệt Luân31.简单爱 / Tình Yêu Đơn Giản - Châu Kiệt Luân32.开不了口/ Không Thể Mở Miệng - Châu Kiệt Luân33.天地一鬥/ Battle Between Heaven and Earth (with Kobe Bryant) - Châu Kiệt Luân34.双截棍/ Côn Nhị Khúc - Châu Kiệt Luân35.你比從前快樂 (Ni Bi Cong Qian Kuai Le) / Em Hạnh Phúc Hơn Trước Đây - Châu Kiệt Luân36.爱的飞行日记 (周杰伦+杨瑞代)/ Nhật Ký Của Chuyến Bay Tình Yêu - Châu Kiệt Luân37.夜的第七 (Ye De Di Qi Zhang) / Chương Thứ Bảy Của Đêm - Châu Kiệt Luân38.东风破 / Gió Đông Thổi - Châu Kiệt Luân39.紅模仿 (Hong Mo Fang) / Hồng Mô Phỏng - Châu Kiệt Luân40.我不配/ Anh Không Xứng - Châu Kiệt Luân41.雨下一整晚/ Mưa Vào Tối Hôm Sau - Châu Kiệt Luân42.威廉古堡 (Wei Lian Qu Bao) / Lâu Đài Của William - Châu Kiệt Luân43.心雨 (Xin Yu) / Tâm Vũ - Châu Kiệt Luân44.断了的弦 / Dây Đàn Đã Đứt - Châu Kiệt Luân45.时光机/ Cỗ Máy Thời Gian - Châu Kiệt Luân46.她的睫毛 (Ta De Jie Mao) / Bờ Mi Của Em - Châu Kiệt Luân
*

Châu Kiệt Luân là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ, nhà sản xuất, diễn viên và đạo diễn từng đạt giải âm nhạc thế giới. Năm 1998, anh được phát hiện trong một cuộc thi tài năng, nơi anh đã trình diễn kĩ năng chơi piano và khả năng viết bài hát của mình. Trong 2 năm kế tiếp, anh được thuê để sáng tác cho những ca sĩ Trung Quốc nổi tiếng. Với kiến thức về nhạc cổ điển, anh phối hợp phong cách nhạc Trung Hoa và phương tây để sáng tác những bài hát hợp nhất các thể loại R&B, rock, và pop, mà trong đó các chủ đề thường đề cập đến sự bạo lực, chiến tranh, và đô thị hóa của quê hương mình.Năm 2000, anh cho ra album đầu tay mang tên Jay dưới tên nhà sản xuất là công ti Alfa Music. Từ đó về sau, anh phát hành đều đặn mỗi năm một album, bán được hàng triệu bản. Châu Kiệt Luân đã bán hơn 25 triệu album trên khắp thế giới. Trong năm 2007, anh được cho là một trong 50 người có ảnh hưởng nhất ở Trung Hoa (bởi Kerry Brown của Anh). Giải thưởng này không được đa số người quan tâm. Anh đã đóng vai chính trong Ban đầu D (2005) và nhờ đó anh đã đoạt giải diễn viên mới xuất sắc nhất trong giải Kim Mã, và được tiến cử cho giải Diễn viên phụ hay nhất trong Lễ trao giải phim Hồng Kông trong phim Mãn thành tận đới hoàng kim giáp (Hoàng Kim Giáp 2006). Châu Kiệt Luân đang dồn tâm huyết vào sự nghiệp đạo diễn và đang điều hành công ty nhạc của chính mình mang tên JVR
*

CUỘC SỐNG BAN ĐẦU
Châu Kiệt Luân lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở Lâm Khẩu, Đài Loan. Cha mẹ anh đều là giáo viên trường cấp II: mẹ anh là Diệp Huệ Mĩ (Tên Trung Hoa: 葉惠美; bính âm: Yè Huìměi) dạy vẽ trong khi cha anh Châu Diệu Trung (tiếng Trung: 周耀中; bính âm: Zhōu Yàozhōng) là một thầy giáo sinh học. Mẹ anh đã phát hiện ra năng khiếu âm nhạc của con trai mình nên đã cho Châu Kiệt Luân học piano năm anh lên lên 4. Trong suốt thời thơ ấu, Châu Kiệt Luân đã bị hấp dẫn với việc thu âm và bái hát với máy thu âm mà anh luôn mang theo bên mình. Lên lớp 3, anh trở nên thích lí thuyết âm nhạc và cũng bắt đầu chơi cello. Châu Kiệt Luân thích chơi piano, bắt chước các diễn viên TV, và biểu diễn ảo thuật. Ba mẹ đã li dị khi anh 14 tuổi khiến anh trở nên nhút nhát và sống khép kín. Mặc dù anh có nhiều bạn, nhưng anh chỉ muốn một mình nghe nhạc, du ngoạn và mơ mộng. Anh bắt đầu thích thể loại pop và bắt đầu sáng tác bài hát.Châu Kiệt Luân không đủ điểm để đỗ đại học, anh học quá tệ, nên bị buộc phải phục vụ nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, chấn thương trong lúc chơi thể thao đã gây nên một cơn đau lưng, một căn bệnh viêm xương sống di truyền khiến cho anh được miễn phục vụ quân sự. Sau đó, anh đã trở thành một người hầu bàn. Bạn anh đã ghi danh cho cả hai trong một kì thi tài năng được gọi là Super New Talent King mà đã không cho Luân biết. Luân đã chơi piano đệm cho bạn mình, người có giọng hát được cho là "lousy". Mặc dù họ không thắng nhưng Luân đã gây ấn tượng đến người tổ chức chương trình Ngô Tông Hiến, một nhân vật có ảnh hưởng trong lãnh vực giải trí Đài Loan. Ngô đã thuê anh như một nhạc sĩ và cho anh biễu diễn chung với nhà thơ trữ tình Phương Văn Sơn (tiếng Trung: 方文山; bính âm: Fāng Wénshān).

Trong suốt hai năm kế, Châu Kiệt Luân sáng tác bài hát cho các ca sĩ pop Trung Quốc, và học thu âm với trộn âm. Ngô không dự định cho Châu trở thành một ca sĩ bởi vì Ngô nghĩ rằng anh hay thẹn thùng và không điển trai. Xưởng nhạc của Ngô sau đó được bán cho Alfa Music, và giám đốc mới Dương Tuấn Vinh đề nghị Châu cho ra album của riêng mình. Châu đã có sẵn trong tay một chuỗi bài hát mà anh đã sáng tác cho các ca sĩ nhưng bị từ chối cho nên anh đã chọn 10 bài hát ở trong ấy cho đĩa CD mà Châu đã cho ra trong năm 2000. Album đã giúp Châu nổi tiếng như một nhạc sĩ kiêm ca sĩ với phong cách trộn lẫn nhiều thể loại nhạc (R&B, rap, nhạc cổ điển,...). Sự nổi tiếng của Châu lan truyền nhanh chong không chỉ trong những vùng Trung Hoa, mà còn khắp các quốc gia ở Nam Á. Từ năm 2000, Châu đã cho ra mỗi năm một album, bán được nhiều triệu bản, và được công nhân với hàng trăm giải thưởng. Năm 2003, anh được đưa lên làm trang bìa trong tạp chí Time (Châu Á), công nhận ảnh hưởng của Châu. Châu đã tổ chức hai tours, "The One" (2002) và "Uncomparable" (2004), biểu diễn ở những thành phố như Đài Bắc, Hồng Kông, Bắc Kinh, Kuala Lumpur, Singapore, Las Vegas, và Vancouver. Không giống hầu hết các ca sĩ, Châu không chỉ là nhạc sĩ mà còn là nhà sản xuất trong tất cả album của mình; từ nặm 2005 anh còn là đạo diễn âm nhạc cho video của mình và các ca sĩ khác.



Xem thêm: Nạp Thẻ Chiến Thần Kỷ Nguyên Nạp Thẻ Chiến Thần Kỷ Nguyên, 2 Cách Nạp Chiến Thần Kỷ Nguyên An Toàn, Đơn Giản

Trong lúc tiếp tục sản xuất abum hàng năm, Châu cũng tham gia vào lãnh vực điện ảnh với vai trò như một diễn viên trong Ban đầu D, mà nhờ nó anh đã dành được danh hiệu Diễn viên mới hay nhất tại giải Kim Mã 2005. Trong những năm kế tiếp, Châu tham gia như một nhân vật hỗ trợ trong ấn bản mới nhất Lời nguyền của bông hoa vàng, với những ngôi sao Trung Hoa như Châu Nhuận Phát và Củng Lợi. Tháng hai 2007, Châu cuối cùng vung đầy giấc mơ thơ ấu của mình trở thành đạo diễn trong Bí mật, trong đó anh đã vào vai chính. Tháng 3 2007, hợp đồng 8 năm với Alfa Music chấm dứt. Châu, quản lí của anh Dương Tuấn Vinh, và nhạc sĩ Phương Văn Sơn hợp tác thành lập công ty thu âm mới, JVR Music (Viết tắt tên của Jay, Vincent, Jun Rong) mà thông qua đó Châu sẽ có thể tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình và nuôi dưỡng những tài năng những tài năng ca hát mới.SỰ NGHIỆP ÂM NHẠC
Phong cách âm nhạcNhững sáng tác của Châu phần lớn thuộc thể loại nhạc pop. Trong khi nhiều tác phẩm của anh lại rơi vào các thể loại R&B, rap, rock hiện đại. Thuật ngữ "phong cách họ Châu" (phồn thể: 周氏風格; bính âm: zhōu shì fēnggé) được phổ biến để diễn tả phong cách nhạc pha trộn nhiều nền văn hóa của anh. Anh thường xuyên phối hợp nhạc cụ Trung Hoa với những phong cách như R&B hay rock để tạo nên một thể loại nhạc mới được gọi là "gió Trung Quốc" (phồn thể: 中國風; bính âm: Zhōngguó fēng), trong đó một vài bài hát được viết trên thang âm Pentatonic như trên thang âm 7 nốt để nhấn mạnh phong cách phương đông. Bên cạnh đó, anh còn phối hợp đàn ghi-ta Tây Ban Nha trong "Hồng mô phỏng" (phồn thể: 紅模仿; bính âm: hóng mófǎng), techno/electronica của Mĩ trong "Bản thảo cương mục" (phồn thể: 本草綱目; bính âm: Běncǎo Gāngmù), rap với phong cách nhạc cổ điển trong "Tức giận" (phồn thể: 逆鱗; bính âm: nìlín), và phong cách Bossanova trong "Mê điệt hương" (phồn thể: 迷迭香; bính âm: mídiéxiāng). Những ảnh hưởng âm thanh trong cuộc sống đời thường thêu dệt nên âm nhạc của Châu, như âm thanh quả banh bóng bàn, tiếng điện thoại reo, âm thanh của những cách quạt trực thăng, mưa, và tiếng ồn của rađio. Châu thường sáng tác những tác phẩm với âm hưởng cổ điển như đối âm trong tác phẩm "sự hoàn hảo" (phồn thể: 完美主義; bính âm: wánměizhǔyì) và "Xin lỗi" (phồn thể: 對不起; bính âm: duìbuqǐ), và "phức điệu" trong "Vết thương kết thúc chiến tranh" (phồn thể: 止戰之殤; bính âm: zhǐ zhàn zhī shāng) và trong "Chương VII của đêm" (phồn thể: 夜的第七章; bính âm: yè de dì-qī zhāng).Những album gần đây của Châu được cho rằng thiếu sự biến đổi so với các tác phẩm đầu tay của anh, nhưng anh đã kiên quyết khẳng định rằng anh sẽ không thay đổi phong cách của mình: "Họ nói rằng tôi đang bế tắc... nhưng đây là âm nhạc mà tôi muốn, và tôi không thấy điều tôi muốn bằng cách tiến lên phía trước...". Để bày tỏ quan điểm của mình, Châu đặt tên album phát hành năm 2006 Giống như Fantasy sau album anh đã phát hành năm 2000 Fantasy. Album này của anh đã bị chỉ trích là "(nói) lầm bầm" mà anh đã nhấn mạnh rằng anh sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, gần đây Châu đã sử dụng cách phát âm rõ ràng hơn trong những tác phẩm như "Thiên lí chi ngoại" (phồn thể: 千里之外; bính âm: qiānlǐ zhīwài) và "Cúc Đài Hoa" (phồn thể: 菊花臺; giản thể: 菊花台; bính âm: júhuā tái) mà anh cũng nhấn mạnh rằng sẽ không thay đổi;Hợp tácChâu bắt đầu sự nghiệp sáng tác bài hát cho các ca sĩ và tiếp tục lãnh vực này ngay cả sau khi anh quyết định bước vào lãnh vực ca hát. Anh đã thường xuyên sáng tác cho Thái Y Lâm, Ôn Lam, và thỉnh thoảng cho các ca sĩ Đài Loan khác như Lý Mân, S.H.E, Từ Nhược Tuyên, Vương Lực Hoành, Lưu Canh Hoành, Hứa Như Vân, và các ngôi sao nhạc pop Lương Hán Văn, Lương Vịnh Kì, Trần Tiểu Xuân, Trần Quán Hi, Mạc Văn Uý, Cổ Cự Cơ, Trần Dịch Tấn, và Dung Tổ Nhi. Anh cũng sáng tác cho các ca sĩ thế hệ trước như Ngô Tông Hiến, sau đó là ca sĩ Đài Loan Giang Huệ, và các ca sĩ Hồng Kông Trương Học Hữu, Lưu Đức Hoa, Lữ Phương, Quách Phú Thành, và Chung Trấn Đào. Anh thu nhận nhóm nhạc Nam Quyền Mama năm 2004, lựa chọn các thành viên nhóm nhạc và trông nom việc sản xuất album của họ. Nhóm nhạc Nam Quyền Mama được cho là có phong cách hòa âm rất giống với Châu; kết quả là Châu phải giảm sự liên quan của mình vào nhóm, nhưng anh vẫn tiếp tục giúp họ thu hút khán giả bắng cách mời họ tham gia những buổi hòa nhạc và video nhạc của mình. Châu đã biểu diễn trực tiếp cùng với Ôn Lam, Thái Y Lâm và bạn gái cũ Hầu Bội Sầm, nhưng chỉ có hai bài hát được vào albums của anh: "Hải san hô" (tiếng Trung: 珊瑚海; bính âm: shānhú hǎi) năm 2005 với Lương Tâm Di (thành viên của nhóm Nam Quyền Mama) và "Thiên lí chi ngoại" (tiếng Trung: 千里之外; bính âm: qiānlǐ zhīwài) năm 2006 với Phí Ngọc Thanh, người đã bắt đầu sự nghiệp của mình những năm 1970. Bên cạnh làm việc với những ca sĩ, Châu còn hợp tác với nhà thơ trữ tình Phương Văn Sơn bởi vì họ cùng bắt đầu sự nghiệp âm nhạc năm 1998. Album Đối tác (phồn thể: 拍檔; giản thể: 拍档; bính âm: pāidàng) bao gồm 12 bài hát, mỗi bản gồm có sữ phối hợp âm của Châu và lời nhạc của Phương. Phương đã viết cho Châu hơn 40 bài hát, đóng vai trò là một nhà biên soạn chính trong quyển sách mang tựa đề là Grandeur de D Major (phồn thể: D調的華麗; giản thể: D调的华丽; bính âm: D diào de huálì), và bây giờ cả hai đang hợp tác phát triển công ty ghi âm JVR cùng với nhà quản lí của Châu, Dương Tuấn Vinh.NHỮNG CÔNG VIỆC KHÁCSự nghiệp điện ảnhChâu chính thức bước vào nền công nghiệp điện ảnh vào năm 2005 với ấn bản bộ phim Ban đầu D (頭文字D). Trước đó anh đã tham gia diẽn xuất trong 3 bộ phim, chỉ đạo một bộ phim và hơn một tá video âm nhạc khác. Châu, người đã tứng nói "Tôi sống cho âm nhạc", mạo hiểm vào những bộ phim bởi vì anh cảm thấy cần thiết cho một thử thách mới. Do những fan hâm mộ lo lắng rằng anh sẽ làm hại sự nghiệp âm nhạc của mình, Châu đã cam đoan một lần nữa rằng phim ảnh là nguồn gốc cho sự cảm hứng và nó sẽ không làm hỏng sự nghiệp âm nhạc của anh. Cùng lúc đó, anh nhận thấy rằng mình cần cân bằng cả hai lĩnh vực cũng như sự nghiệp và duy trì vị trí của mình trong lĩnh vực âm nhạc đễ không làm mất sự ủng hộ của các fan.Diễn xuấtBước đi vào diễn xuất được xem như là một bước đi không tưởng cho Châu. Giáo viên anh văn của anh đã nghĩ rằng anh chỉ có khả năng đóng một số ít nhân vật, và đạo diễn của Tầm trảo Châu Kiệt Luân (2003, một bộ phim trong đó Châu đóng vai phụ) đã nói rằng tính cách cá nhân của Châu sẽ không giúp Châu trở thành một diễn viên chuyên nghiệp. Trong năm 2005, Châu vào vai chính trong bộ phim Ban đầu D với hai mục đích: Khởi đầu sự nghiệp diễn viên, và gia tăng danh tiếng của mình với các khán giả Nhật. Bộ phim này được viết dựa trên một bộ truyện cùng tên, nơi Châu vào vai Fujiwara Takumi, một tay đua xe có tài năng, người hiếm khi biểu lộ cảm xúc của mình. Một số người xem phê bình sự diễn xuất ôn hòa của anh, trong khi nhiều người khác cảm thấy rằng anh đã diễn xuất rất tự nhiên, nhưng chỉ vì tính cách nhưng vật khá giống bản thân anh. Tài năng diễn xuất của Châu đã giúp anh giành được giải Diễn viên mới hay nhất trong Lễ trao giải ngựa vàng (Giải Kim Mã) và lễ trao giải phim Hồng Kông (Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông). Châu vào vai diễn viên phụ trong bộ phim Lời nguyền của bông hoa vàng (Hoàng Kim Giáp, 2006). Châu đã gây nên rất nhiều sự chú ý với các nhà báo Trung Hoa; sự tham gia diễn xuất của Châu trong bộ phim này được thông báo trong một cuộc mitting quảng cáo, riêng lẻ với cuộc mit-ting của Châu Nhuận Phát, Củng Lợi, và các diễn viên khác. Châu đã khắc họa Hoàng tử Jai, một hoàng tử tham vọng và cũng là một vị tướng của quân đội Imperial với tính cách tượng trưng cho Hiếu (孝), một người Trung Hoa đức hạnh và trung thành với tổ quốc. Bộ phim này được trinh chiếu trên khắp thế giới, đây là lần đầu tiên khán giả Bắc Mĩ xem Châu diễn xuất. Theo những nhà phê bình phim Trung Hoa, những bình chọn về diễn xuất của Châu được xếp từ "thiếu tính phức tạp" cho đến "có thể chấp nhận" nhưng diễn xuất đó lại được khen thưởng một cách nhiệt liệt từ những khán giả phương Tây. Sự diễn xuất của Châu trong bộ him Lời nguyền của bông hoa vàng được trao giải diễn viên phụ hay nhất trong Lễ trao giải phim Hồng Kông. Trong bộ phim thứ III, Châu vào vai diễn viên chính kiêm đạo diễn cho bộ phim Bí mật (Bí mật không thể nói). Một bộ phim khác mang tên Kung Fu quán lam đã được ra mắt trong năm 2008.